Thực quản II: Hẹp lòng, Hội chứng cấp tính, U tân sinh và Chèn ép mạch máu
Ngày xuất bản
Trong Thực quản II, chúng ta sẽ thảo luận về:
- Hẹp thực quản
- Các hội chứng thực quản cấp tính.
- Khối u lành tính và ác tính.
- Ấn lõm mạch máu.
Hẹp Thực Quản
Bảng trình bày các nguyên nhân thường gặp và ít gặp gây hẹp thực quản.
Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy một vị trí hẹp (mũi tên) với các nếp niêm mạc không đều tại vị trí hẹp trên hình ảnh đối quang khí.
Bệnh nhân này được chẩn đoán thực quản Barrett.
Hẹp và loét thực quản đoạn giữa gợi ý nghi ngờ thực quản Barrett.
Hai hình ảnh bên phải cho thấy thực quản Barrett với vị trí hẹp không đều do ung thư biểu mô tuyến.
Hình ảnh cho thấy một đoạn hẹp lành tính dài, thon đều đối xứng xuất hiện nhiều tháng sau xạ trị.
Đây là hình ảnh của một bệnh nhân có đoạn hẹp lành tính ở đoạn cao của thực quản (mũi tên).
Có hình ảnh đông đặc phổi thùy dưới hai bên do hít sặc tái diễn nhiều lần.
Mỗi năm tại Hoa Kỳ có khoảng 5.000–15.000 trường hợp nuốt phải chất ăn mòn.
Khoảng 50%–80% xảy ra ở nhóm bệnh nhân nhi.
Hình bên trái cho thấy đoạn hẹp cao (mũi tên) sau khi nuốt phải chất ăn mòn.
Các gai xương (mũi tên) có thể chèn ép vào thực quản và hạ họng.
Tuy nhiên, chúng hiếm khi gây ra triệu chứng lâm sàng.
Hẹp thực quản đa ổ là tình trạng ít gặp.
Bảng trình bày các bệnh lý có thể biểu hiện với nhiều đoạn hẹp thực quản.
Đây là hình ảnh của một bệnh nhân mắc pemphigoid lành tính.
Các bóng nước niêm mạc đã dẫn đến hình thành nhiều đoạn hẹp (mũi tên).
Hình ảnh này của một bệnh nhân mắc ly thượng bì bọng nước lành tính.
Nhiều đoạn hẹp (mũi tên) là di chứng của bệnh lý bọng nước niêm mạc.
Bệnh lý bọng nước da lan rộng đã dẫn đến tình trạng dính ngón tay và co rút.
Nuốt phải chất ăn mòn có thể dẫn đến hình thành nhiều đoạn hẹp thực quản.
Các hội chứng thực quản cấp tính
Bảng bên trái liệt kê các nguyên nhân gây hội chứng thực quản cấp tính.
Hội chứng Boerhaave
Hội chứng Boerhaave là tình trạng vỡ thành thực quản.
Nguyên nhân thường gặp nhất là nôn mửa quá mức trong các rối loạn ăn uống như chứng cuồng ăn (bulimia), mặc dù hiếm gặp hơn có thể xảy ra khi ho quá mạnh hoặc trong các tình huống khác như tắc nghẽn do thức ăn.
Hội chứng Boerhaave là thủng thực quản xuyên thành (toàn bộ chiều dày thành), khác biệt với hội chứng Mallory-Weiss – một dạng rách thực quản không xuyên thành cũng liên quan đến nôn mửa.
Các hội chứng này khác biệt với thủng do thầy thuốc (iatrogenic perforation), vốn chiếm 85-90% các trường hợp vỡ thực quản, thường là biến chứng của thủ thuật nội soi, ống thông nuôi dưỡng hoặc phẫu thuật không liên quan.
Hình ảnh này của một bệnh nhân mắc hội chứng Boerhaave.
X-quang ngực cho thấy tràn khí trung thất (các mũi tên).
Chụp thực quản cản quang cho thấy thuốc cản quang tan trong nước thoát ra ngoài lòng thực quản vào nửa ngực trái (dấu hoa thị).
Thủng hầu như luôn xảy ra ở phía trái của thực quản đoạn xa.
X-quang cho thấy khí trung thất, tràn dịch màng phổi và sau đó là tràn khí màng phổi.
Chụp thực quản cản quang được sử dụng để xác nhận rò rỉ, trước tiên dùng thuốc cản quang tan trong nước, sau đó dùng barium nếu không phát hiện rò rỉ.
Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân mắc hội chứng Boerhaave.
Chụp thực quản barium cho thấy khí ngoài lòng thực quản (mũi tên) mà không có hiện tượng thoát thuốc cản quang ra ngoài.
CT cho thấy khí ngoài lòng thực quản (các mũi tên).
Rách thực quản đoạn xa bên trái được xác nhận trong phẫu thuật.
CT có thể phát hiện lượng nhỏ khí ngoài lòng thực quản hoặc thoát thuốc cản quang mà không thể nhìn thấy trên X-quang hoặc chụp thực quản cản quang.
Rách niêm mạc Mallory-Weiss
Rách niêm mạc Mallory-Weiss xảy ra do nôn mửa kéo dài và dữ dội, ho hoặc co giật.
Thông thường, niêm mạc tại vùng nối thực quản – dạ dày bị rách và chảy máu, biểu hiện bằng máu đỏ tươi trong chất nôn hoặc phân có máu.
Tình trạng này có thể xảy ra do uống rượu quá mức.
Đây là một tình trạng cấp tính thường tự khỏi trong vòng 10 ngày mà không cần điều trị đặc hiệu.
Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân bị rách niêm mạc Mallory-Weiss.
Phim chụp điểm (spot films) cho thấy barium (các mũi tên) trong đường rách niêm mạc dạng tuyến tính gần chỗ nối thực quản – dạ dày.
Vết rách có thể ở thực quản đoạn xa, đáy vị hoặc kéo dài qua chỗ nối thực quản – dạ dày.
Tụ máu thực quản
Các tổn thương hiếm gặp này có liên quan đến tình trạng tăng áp lực trong lòng thực quản, thường gặp nhất là do nôn mửa, can thiệp dụng cụ, và dùng thuốc chống đông máu hoặc rối loạn đông máu.
Một số trường hợp xảy ra tự phát.
Chấn thương đụng dập là nguyên nhân hiếm gặp.
Tụ máu thực quản có tính chất tự giới hạn và hầu như không bao giờ tiến triển thành thủng.
Hầu hết các trường hợp tụ máu thực quản tự khỏi trong 1-2 tuần với điều trị bảo tồn.
Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân bị tụ máu thực quản.
Bệnh nhân nhập viện với triệu chứng đau ngực và khó nuốt sau khi nôn mửa.
Ngoài hình ảnh động mạch chủ xoắn vặn, X-quang ngực bình thường.
Chụp thực quản barium cho thấy lòng thực quản hẹp (các mũi tên) trên phim thẳng (AP) và lòng thực quản dẹt trên phim nghiêng (các đầu mũi tên), gợi ý tụ máu trong thành thực quản.
Trên CT, chẩn đoán tụ máu trong thành thực quản được xác nhận.
Khối tụ máu thành thực quản tăng tỷ trọng (đầu mũi tên) được thấy kế bên ống thông mũi – dạ dày (mũi tên).
Sau điều trị bảo tồn, sáu tháng sau chụp thực quản barium cho kết quả bình thường.
Bên trái là hình ảnh một bệnh nhân có biến chứng sau nội soi.
Can thiệp dụng cụ gây rách niêm mạc và tụ máu trong thành thực quản dạng bóc tách, tạo ra hình ảnh lòng đôi với dải niêm mạc phân cách (các mũi tên).
Ngoài cùng bên trái là hình ảnh thoát thuốc cản quang trong thành thực quản (mũi tên) sau nong đoạn xa điều trị achalasia.
Ở giữa là hình ảnh thoát thuốc cản quang trong thành thực quản (mũi tên) sau nội soi có biến chứng.
Bên phải là hình ảnh thủng thực quản sau sinh thiết với thuốc cản quang thoát ra ngoài lòng thực quản (mũi tên).
Khối u lành tính
Dưới đây là danh sách các khối lành tính của thực quản.
U cơ trơn (Leiomyoma)
U cơ trơn là khối u lành tính thực quản thường gặp nhất, thường có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn. U mô đệm đường tiêu hóa (GIST) ít gặp nhất ở thực quản.
Hình bên trái là bệnh nhân không có triệu chứng với u cơ trơn.
Trên phim ngực thẳng, thấy một đám mờ bất thường phía sau tim (mũi tên).
Hình chụp thực quản cản quang barium cho thấy một khối có múi (mũi tên) không gây tắc nghẽn mặc dù kích thước lớn.
Các tổn thương niêm mạc được nhận biết qua hình ảnh bề mặt niêm mạc không đều.
Các tổn thương trong thành dưới niêm mạc tạo ra hình khuyết lấp đầy nhẵn, và khi nhìn nghiêng, bờ tổn thương thường tạo góc gần vuông với thành thực quản.
Các tổn thương ngoại lai có xu hướng tạo góc tù dài hơn nếu không dính vào thành thực quản, và tâm điểm của chúng có thể nằm ngoài thực quản. Trên thực tế, việc xác định vị trí của tổn thương có thể gặp khó khăn.
Trên phim X-quang, khối u (mũi tên) lồi vào ngách thực quản-tĩnh mạch đơn.
Trên hình chụp thực quản cản quang, bờ dưới của tổn thương trong thành này tạo góc gần vuông (mũi tên) với thành thực quản.
Một khối thực quản có vôi hóa hầu như luôn là u cơ trơn.
Hình bên trái là bệnh nhân có tổn thương thực quản vôi hóa (mũi tên) lồi vào ngách thực quản-tĩnh mạch đơn trên phim X-quang.
Tổn thương (mũi tên) trên CT và hình X-quang bệnh phẩm phẫu thuật cho thấy vôi hóa.
Hình bên trái là bệnh nhân với u nguyên bào cơ dạng hạt (granular cell myoblastoma), một loại khối u lành tính hiếm gặp.
Hai tổn thương này (mũi tên) có hình ảnh không đặc hiệu, tuy nhiên tổn thương ở phía gần hơn có bờ nhô ra và góc vuông, gợi ý vị trí trong thành thực quản.
Polyp xơ mạch (Fibrovascular polyp)
Polyp xơ mạch có cuống là tổn thương hiếm gặp, khó chẩn đoán trên hình chụp thực quản cản quang barium.
Sự di chuyển của polyp trong quá trình thăm khám tạo ra vị trí không cố định.
Hình dạng của polyp đôi khi có thể gợi ý chẩn đoán như trong trường hợp bệnh nhân này.
Cuống polyp thường khó xác định.
Dị tật nhân đôi thực quản
Hình bên trái là bệnh nhân với dị tật nhân đôi thực quản.
Các hình ảnh trên chụp thực quản cản quang barium không đặc hiệu.
Tổn thương (mũi tên) có thể thấy phía sau tim trên phim X-quang.
Hẹp thực quản (mũi tên) do dị tật nhân đôi gây ra.
Nang nhân đôi ruột trước (foregut duplication cyst) là một nang bẩm sinh.
Trong trường hợp hình bên trái, nang đẩy hạ họng và thực quản đã cản quang (mũi tên) ra phía sau, đồng thời đẩy khí quản và thanh quản (dấu hoa thị) ra phía trước.
Khối u ác tính
Dưới đây là danh sách các khối u thực quản ác tính.
Ung thư thực quản sớm và ung thư thực quản kích thước nhỏ không phải là hai khái niệm đồng nghĩa.
Ung thư thực quản sớm được giới hạn ở lớp niêm mạc, dưới niêm mạc và chưa có di căn hạch bạch huyết.
Hầu hết có kích thước nhỏ ( Ung thư thực quản kích thước nhỏ được định nghĩa dựa trên kích thước tổn thương, với đường kính Vì vậy, một ung thư sớm có thể có kích thước nhỏ, nhưng một ung thư kích thước nhỏ vẫn có thể đã xâm lấn hoặc di căn và do đó không được xếp vào loại ung thư sớm.
Hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư thực quản sớm.
Tổn thương không hiển thị trên phim chụp thực quản cản quang đơn thuần.
Phim chụp thực quản đối quang kép (không khí – cản quang) cho thấy bề mặt niêm mạc không đều (các mũi tên) gợi ý tổn thương niêm mạc.
Đây vừa là tổn thương kích thước nhỏ, vừa được xác nhận về mặt giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô vảy giai đoạn sớm.
Ung thư thực quản giai đoạn tiến triển có nhiều hình thái đại thể:
- Dạng polyp
- Dạng giãn tĩnh mạch (varicoid)
- Dạng thâm nhiễm
- Dạng loét
- Dạng lan rộng bề mặt
- Dạng hẹp (stricture)
- Giả co thắt tâm vị (Pseudoachalasia)
Bên trái là hai trường hợp ung thư biểu mô dạng polyp.

Ung thư biểu mô thực quản với các ổ loét (mũi tên) và góc tiếp giáp vuông góc sắc nét với thành thực quản (đầu mũi tên)
Hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng thâm nhiễm loét.
Tổn thương có ranh giới chuyển tiếp đột ngột tạo thành góc nhọn và bờ nhô ra (overhanging edge).
Đặc điểm này gợi ý sự xâm lấn thành thực quản và khác với góc tù thường gặp trong các tổn thương ngoại sinh không dính vào thực quản.
Các hình ảnh này của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid).
Hình ảnh các khuyết thuốc không thay đổi gợi ý đây là khối u hơn là giãn tĩnh mạch thực sự.
Lưu ý bờ trên sắc nét của tổn thương và ổ loét (các mũi tên)
Ngoài cùng bên trái là hình ảnh của một bệnh nhân có ung thư biểu mô dạng giãn tĩnh mạch (varicoid).
Các thùy dài mô phỏng hình ảnh giãn tĩnh mạch nhưng không thay đổi trong quá trình soi huỳnh quang.
Lưu ý các nếp niêm mạc lớn không đều và khối mô mềm (mũi tên) ở đáy vị
Bên cạnh đó là hình ảnh của một bệnh nhân có ung thư biểu mô lan rộng bề mặt.
Tổn thương lan rộng bề mặt lan rộng liên quan đến đoạn thực quản xa.
Hình ảnh này có thể gặp ở cả tổn thương sớm lẫn tổn thương giai đoạn tiến triển.

TRÁI: Hẹp đoạn xa dài và không đều do ung thư biểu mô. PHẢI: Hẹp đoạn xa không có dạng thuôn nhọn và ở vị trí gần hơn so với co thắt tâm vị. Sự không đều (mũi tên) tại vị trí hẹp tinh tế nhưng dai dẳng.
Ngoài cùng bên trái là hình ảnh bệnh nhân ung thư biểu mô có hẹp thực quản.
Hẹp không đều, không đối xứng gợi ý mạnh đến ung thư biểu mô.
Hẹp thuôn nhọn đều đặn, đối xứng là đặc trưng của nguyên nhân lành tính, tuy nhiên các hẹp ác tính cũng có thể có đặc điểm tương tự và bắt chước tổn thương lành tính.
Bên cạnh đó là hình ảnh bệnh nhân ung thư biểu mô có hẹp thực quản giống co thắt tâm vị.
Khối u ác tính đoạn thực quản xa có thể rất giống hình ảnh co thắt tâm vị.
Nếu nhu động thực quản bình thường, có thể loại trừ co thắt tâm vị.
Tuy nhiên, nếu nhu động bất thường, các đặc điểm hình ảnh tinh tế như: hẹp không đối xứng, không đều, đột ngột hoặc ở vị trí cao, bất thường niêm mạc, hoặc bất thường cố định sẽ gợi ý chẩn đoán.
Bên trái là một trường hợp giả co thắt tâm vị khác.
Hẹp đoạn xa mô phỏng hình ảnh co thắt tâm vị, nhưng vị trí hẹp lệch tâm, các bờ vai không đối xứng (các mũi tên), và niêm mạc không đều tại đỉnh vùng hẹp.
CT cho thấy thành đáy vị dày lên (các mũi tên) do ung thư biểu mô tuyến.
Dải khí quản – thực quản (Tracheoesophageal stripe)
Chiều rộng của vùng tiếp giáp giữa thành sau khí quản và thành trước thực quản > 5 mm trên phim chụp ngực thẳng tư thế nghiêng là dấu hiệu nghi ngờ bệnh lý, thường gặp nhất là ung thư biểu mô thực quản hoặc co thắt tâm vị.
Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có dải rộng 1 cm (các mũi tên).
Phim chụp thực quản cản quang cho thấy dải rộng (các mũi tên) và bờ không đều của ung thư biểu mô đoạn thực quản giữa.
CT cho thấy mô mềm bất thường ở phía sau khí quản.
Khối u xâm lấn trung thất liền kề cung động mạch chủ (mũi tên)
Thực quản Barrett và Ung thư biểu mô tuyến
Thực quản Barrett là yếu tố nguy cơ đã được chứng minh cho sự phát triển của ung thư biểu mô tuyến.
Tuy nhiên, tỷ lệ mắc ung thư trong bối cảnh thực quản Barrett vẫn còn nhiều tranh cãi.
Câu hỏi về đối tượng, phương thức và thời điểm tầm soát vẫn chưa được giải quyết thống nhất.
Ung thư biểu mô tuyến chiếm 10% các khối u ác tính thực quản vào những năm 1960.
Kể từ thập niên 1960, tỷ lệ mắc tại Hoa Kỳ tăng nhanh hơn bất kỳ loại ung thư nào khác.
Tỷ lệ mắc hiện nay đang tiệm cận hoặc vượt qua ung thư biểu mô vảy ở nam giới da trắng tại Hoa Kỳ và châu Âu.
Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có ung thư biểu mô tuyến dạng mảng (plaque-like) có loét (mũi tên) trên nền thực quản Barrett.
Ung thư biểu mô tuyến nguyên phát của đáy vị có thể xâm lấn vào thực quản, tuy nhiên các tiêu chí phân biệt xâm lấn từ dạ dày với khối u nguyên phát thực quản vẫn còn là chủ đề tranh luận.
Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có ung thư biểu mô tuyến đáy vị.
Phim chụp cản quang barium cho thấy thành thực quản đoạn xa dày lên rõ rệt và không đều, cùng với các nếp niêm mạc bất thường tại vùng nối thực quản – dạ dày.
CT cho thấy thành bờ cong nhỏ dày lên và không đều (các mũi tên) gần vùng nối thực quản – dạ dày.
Ung thư biểu mô tế bào hình thoi là các khối u hiếm gặp, còn được gọi là ung thư biểu mô – sarcoma (carcinosarcoma).
Chúng thường có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn, như trong trường hợp được minh họa bên trái.
U cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) và u hắc tố ác tính nguyên phát hiếm gặp của thực quản cũng có xu hướng có kích thước lớn nhưng không gây tắc nghẽn đáng kể.
Bên trái là hình ảnh bệnh nhân có u cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) thực quản.
Bờ (các mũi tên) của khối u kích thước lớn có thể nhìn thấy trên phim chụp ngực thẳng.
Phim chụp thực quản cản quang tư thế nghiêng cho thấy sự không đều rõ rệt và hẹp lòng thực quản (các mũi tên).
Bên trái là một bệnh nhân khác có u cơ trơn ác tính (leiomyosarcoma) thực quản.
Khối u kích thước lớn làm biến dạng lòng thực quản.
CT cho thấy khối tổn thương làm biến dạng nhưng không gây tắc nghẽn lòng
Ấn lõm mạch máu
Bên trái là danh sách các cấu trúc mạch máu có thể gây ấn lõm lên thực quản.
Giãn tĩnh mạch hướng lên (Uphill varices)
Trong tăng áp lực tĩnh mạch cửa, áp lực tĩnh mạch cửa tăng cao dẫn đến dòng chảy đảo ngược (hướng ly gan) đi vòng qua gan qua tĩnh mạch vị trái đến các tĩnh mạch thực quản và cạnh thực quản giãn rộng, rồi nối thông với tĩnh mạch đơn và bán đơn, dẫn lưu hướng lên vào tĩnh mạch chủ trên.
Các khuyết đọng thuốc do giãn tĩnh mạch được đặc trưng bởi sự thay đổi hình ảnh trong quá trình thăm khám liên quan đến việc nín thở và áp lực lồng ngực.
Bên trái là hình ảnh CT của bệnh nhân có giãn tĩnh mạch hướng lên (Uphill varices) kích thước lớn thứ phát do xơ gan kèm tăng áp lực tĩnh mạch cửa.
Bên trái là hình ảnh CT của bệnh nhân có giãn tĩnh mạch hướng lên (uphill varices).

TRÁI: Giãn tĩnh mạch sau tim dạng khối (mũi tên). PHẢI: Hình chụp thực quản cản quang cho thấy giãn tĩnh mạch (mũi tên)
Giãn tĩnh mạch hướng lên có thể có dạng khối như trường hợp được minh họa bên trái.
Tiếp tục với hình ảnh tiếp theo.
Hình CT cho thấy giãn tĩnh mạch trung thất và thực quản dạng khối (mũi tên).
Cần phân biệt giãn tĩnh mạch với ung thư dạng giãn tĩnh mạch (varicoid carcinoma).
Bên trái, hình ảnh cố định của các khuyết đọng thuốc gợi ý khối u hơn là giãn tĩnh mạch.
Lưu ý bờ trên sắc nét của tổn thương (mũi tên)
Giãn tĩnh mạch hướng xuống (Downhill Varices)
Khi tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên, máu tĩnh mạch phần thân trên chảy xuống dưới theo hướng xuôi dòng qua các tĩnh mạch thực quản đến tĩnh mạch đơn, rồi đổ vào tĩnh mạch chủ trên ở phía dưới vị trí tắc nghẽn.
Nếu vị trí tắc nghẽn nằm tại hoặc dưới tĩnh mạch đơn, dòng máu sẽ tiếp tục chảy xuống dưới đến hệ thống tĩnh mạch cửa, rồi qua tĩnh mạch gan đến tĩnh mạch chủ dưới và tâm nhĩ phải.
Bên trái là hình ảnh giãn tĩnh mạch hướng xuống ở bệnh nhân tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên do bệnh histoplasma.
Trên hình chụp thực quản cản quang, các khuyết đọng thuốc không hằng định (mũi tên) biểu hiện giãn tĩnh mạch hướng xuống ở thực quản trên.
Hình chụp mạch máu cho thấy các mạch bàng hệ bao gồm tĩnh mạch liên sườn trên trái giãn rộng (mũi tên).
Hình chụp thực quản cản quang cho thấy các khuyết đọng thuốc không hằng định (mũi tên xanh) do giãn tĩnh mạch hướng xuống ở thực quản trên.
CT cho thấy giãn tĩnh mạch thực quản (mũi tên đỏ) và trung thất.
Tiếp tục với hình chụp tĩnh mạch.
Hình chụp tĩnh mạch chi trên cho thấy tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên (SVC).
Động mạch dưới đòn phải bất thường
Đây là dị tật động mạch lồng ngực thường gặp nhất và hiếm khi gây triệu chứng.
Động mạch chạy lên trên và sang phải tạo ra ấn lõm chéo phía sau lưng trên thực quản (mũi tên).
CT cho thấy động mạch bất thường (mũi tên) là mạch xuất phát cuối cùng từ quai động mạch chủ và chạy phía sau khí quản và thực quản.
Quai động mạch chủ phải kèm động mạch dưới đòn trái bất thường
Quai động mạch chủ phải kèm động mạch dưới đòn trái bất thường thường là phát hiện tình cờ.
Tuy nhiên, quai động mạch chủ phải với phân nhánh đối xứng gương hầu như luôn liên quan đến bệnh tim bẩm sinh.
CT cho thấy quai động mạch chủ phải (R) và động mạch dưới đòn trái bất thường (mũi tên) xuất phát thấp từ quai và chạy sang trái phía sau thực quản và khí quản.
Bên trái là hình chụp thực quản cản quang của bệnh nhân có quai động mạch chủ phải tạo ra ấn lõm phía sau trên tư thế nghiêng (mũi tên xanh).
Sơ đồ minh họa động mạch dưới đòn trái bất thường (L SCA) nằm phía sau khí quản và thực quản.

Quai đôi động mạch chủ – TRÁI: Quai phải và quai trái ấn lõm thực quản (mũi tên) ở các mức độ khác nhau – PHẢI: Hình chụp mạch máu với quai đôi ở bệnh nhân 65 tuổi không có triệu chứng
Quai đôi động mạch chủ (Double Arch)
Quai đôi động mạch chủ thường biểu hiện bằng tắc nghẽn đường thở, khó nuốt và hít sặc ở trẻ em.
Các quai ấn lõm thực quản ở các mức độ khác nhau.
Bên trái là một trường hợp quai đôi động mạch chủ khác.
Phim X-quang ngực cho thấy đông đặc phổi phải do hít sặc ở trẻ 6 tuổi.
Quai phải và quai trái ấn lõm thực quản (mũi tên) ở các mức độ khác nhau.

Động mạch phổi trái bất thường: động mạch bất thường chạy giữa khí quản và thực quản, ấn lõm cả hai cấu trúc (mũi tên)
Động mạch phổi trái bất thường
Động mạch phổi trái bất thường ấn lõm khí quản phía sau và thực quản phía trước khi chạy giữa hai cấu trúc này.
Hẹp phế quản phải có thể gây bẫy khí hoặc xẹp phổi.
Động mạch chủ xoắn vặn
Động mạch chủ xuống xoắn vặn là nguyên nhân thường gặp gây ấn lõm ngoại sinh lên thực quản.
Hình ảnh ngoài cùng bên trái cho thấy thực quản đoạn xa bị hẹp.
Tư thế chếch cho thấy ấn lõm thực quản do động mạch chủ với bờ tù (mũi tên), đặc trưng của chèn ép ngoại sinh.
Bệnh lý động mạch chủ
Ngoài cùng bên trái là hình ảnh ấn lõm bình thường của quai động mạch chủ lên thực quản.
Ấn lõm này có thể lớn hơn khi có giãn động mạch chủ, như thấy ở bệnh nhân này với phình quai động mạch chủ do nhiễm khuẩn (mũi tên).
<div class=”dblok md:w-1/2 mx-2
</article>






















































