Hướng dẫn BTS về nốt phổi
Ngày xuất bản
Bài viết này trình bày hướng dẫn năm 2015 của Hội Lồng ngực Anh quốc (BTS) về xử trí nốt phổi [1].
Các điểm quan trọng trong hướng dẫn này bao gồm:
- Ngưỡng kích thước nốt cao hơn để chỉ định theo dõi: ⩾ 5mm hoặc ⩾ 80mm3
- Rút ngắn thời gian theo dõi xuống còn một năm đối với các nốt đặc.
- Sử dụng hai mô hình dự đoán nguy cơ ác tính để đánh giá đặc điểm nốt phổi tốt hơn.
- Áp dụng cùng một phương pháp tiếp cận cho cả nốt phát hiện tình cờ lẫn nốt phát hiện qua sàng lọc.
Giới thiệu
Hướng dẫn BTS
Hình ảnh trình bày phiên bản tổng quát của các thuật toán BTS.
- Bước 1
Không cần theo dõi đối với các nốt < 5mm và các tổn thương điển hình lành tính có vôi hóa lành tính như u hamartoma và nốt cạnh khe liên thùy. - Bước 2
Chỉ các tổn thương từ 5mm trở lên mới cần theo dõi. Phân loại tổn thương thành đặc và bán đặc (kính mờ hoặc đặc một phần). - Bước 3
Sử dụng ứng dụng Mô hình Brock để đánh giá nguy cơ ác tính đối với các tổn thương đặc >8mm và các tổn thương bán đặc ổn định trong quá trình theo dõi 3 tháng. - Bước 4
Sử dụng mô hình Herder khi thực hiện PET-CT.
Thời gian theo dõi là 1 năm nếu sử dụng phép đo thể tích, trong khi phép đo 2D thủ công yêu cầu thời gian theo dõi 2 năm.
Các nốt có sự thay đổi thể tích dưới 25% được coi là ổn định và có thể kết thúc theo dõi sau khoảng thời gian theo dõi được chỉ định.
Chỉ xem xét kết thúc theo dõi khi VDT >600 ngày được tính toán bằng phép đo thể tích.
Khi có hình ảnh trước đó, hãy xác định nguy cơ ung thư phổi dựa trên thời gian nhân đôi thể tích.
Ví dụ 1
Hình ảnh cho thấy một nốt đặc đơn độc không có bờ tua gai kích thước 7 mm (162 mm3) ở thùy dưới phổi phải (RLL) của bệnh nhân nam 55 tuổi, không có tiền sử gia đình dương tính, nhưng có khí phế thũng nhẹ.
Theo dõi cho thấy sự ổn định dài hạn với kích thước 7 mm (146 mm3) tại thời điểm 12 tháng.
Bệnh nhân được kết thúc theo dõi bằng CT.
Ví dụ 2
Hình ảnh cho thấy một nốt đặc đơn độc không có bờ tua gai kích thước 9 mm (362 mm3) ở thùy dưới phổi trái (LLL) của bệnh nhân nữ 75 tuổi, không có tiền sử gia đình dương tính hoặc khí phế thũng.
Dự đoán nguy cơ theo mô hình Brock là 6,3%, cho thấy cần theo dõi bằng CT tại thời điểm 3 tháng.
Kết quả cho thấy sự ổn định ở ngưỡng ranh giới, nhưng CT tại thời điểm 12 tháng ghi nhận sự tăng trưởng rõ ràng với VDT <400 ngày.
Bệnh nhân được phẫu thuật cắt hình nêm sau định vị bằng dây dẫn, kết quả giải phẫu bệnh xác định là u carcinoid phổi.
Máy tính Dự đoán Nguy cơ Nốt Phổi BTS
Nhấp vào đây để sử dụng máy tính cho mô hình Brock, mô hình Herder và máy tính thời gian nhân đôi thể tích sau khi tích vào ô chấp nhận điều kiện sử dụng.
Với máy tính này, bạn có thể tính toán:
- Xác suất ác tính sau CT (Mô hình Brock)
- Xác suất ác tính sau PET-CT (Mô hình Herder)
- Thời gian nhân đôi thể tích
Bạn cũng có thể tải ứng dụng máy tính về điện thoại iPhone hoặc Android của mình.
Nhấp vào đây để xem ứng dụng trên App Store.
Hướng dẫn BTS cho phép sử dụng cả hai phương pháp đo: kỹ thuật đo 2D bằng thước kẹp và phép đo thể tích nốt 3D.
Lưu ý rằng phép đo 2D là đường kính tối đa đơn thuần chứ không phải giá trị trung bình của đường kính ngắn và đường kính dài như trong phương pháp Fleischner.
Trong trường hợp có nhiều nốt phổi, chiến lược đánh giá nguy cơ và theo dõi được dựa trên nốt lớn nhất.
Sự tăng trưởng của nốt được định nghĩa là mức tăng thể tích ≥25%.
Khi mức tăng thể tích dưới 25%, tổn thương được gọi là ổn định.
Mô hình Brock
McWilliams và cộng sự đã phát triển mô hình Brock để dự đoán nguy cơ ác tính của nốt phổi [2].
Sử dụng ứng dụng để nhập các đặc điểm của nốt và bệnh nhân, ứng dụng sẽ tính toán nguy cơ ác tính.
Đây là ví dụ về một phụ nữ 45 tuổi với một nốt đặc 8 mm không nằm ở thùy trên và không có bờ tua gai.
Không có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi và không có khí phế thũng.
Ứng dụng tính toán nguy cơ ác tính là 1,9%.
Đây là ví dụ khác về một nam giới 65 tuổi với một nốt đặc 26 mm nằm ở thùy trên có bờ tua gai.
Có tiền sử gia đình mắc ung thư phổi và có khí phế thũng.
Ứng dụng tính toán nguy cơ ác tính là 67,7%.
Mô hình Herder
Hướng dẫn BTS áp dụng mô hình Herder để đánh giá lại nguy cơ ác tính ở các nốt được đánh giá bằng PET-CT sau khi có nguy cơ ác tính tăng cao trước đó, được định nghĩa là điểm Brock ≥10%.
Mô hình tính toán nguy cơ một nốt sẽ được chẩn đoán là ung thư dựa trên:
- Đặc điểm bệnh nhân:
tuổi, tình trạng hút thuốc, tiền sử ung thư ngoài lồng ngực - Đặc điểm nốt:
kích thước, vị trí thùy trên, bờ tua gai. - Mức độ bắt FDG: không – mờ nhạt – vừa phải – mạnh.
Mô hình này cho thấy hiệu suất xuất sắc [3], mặc dù hiệu suất bị hạn chế đối với các nốt dưới một centimét do độ phân giải của PET-CT.
Một ví dụ về mô hình Herder trong ứng dụng được thể hiện ở đây.
Đây là người đàn ông 65 tuổi tương tự như trong ví dụ của mô hình Brock.
Lưu ý rằng xác suất ung thư phổi đã giảm từ 67,7% xuống còn 10,4% dựa trên việc không có sự hấp thu FDG tại tổn thương.
Nốt cạnh rãnh liên thùy
Nốt cạnh rãnh liên thùy (Perifissural nodule – PFN) là một thực thể riêng biệt và có bản chất lành tính.
Một PFN điển hình có đặc điểm bám vào rãnh liên thùy phổi, đồng nhất, đặc và có bờ nhẵn.
Hình dạng thường là bầu dục, thấu kính hoặc tam giác (Hình minh họa).
Một nốt có những đặc điểm đặc trưng này không cần theo dõi và nhiều khả năng là hạch bạch huyết trong phổi.
Trong một nghiên cứu của de Hoop, không có nốt nào trong số 919 PFN điển hình và không điển hình được xác định là ác tính trong thời gian theo dõi 5,5 năm.
Do đó, việc theo dõi nốt cạnh rãnh liên thùy chỉ được chỉ định khi phát hiện một tổn thương không phải PFN.
Các PFN điển hình hoặc không điển hình không cần can thiệp.
Các PFN điển hình có thể cho thấy tốc độ tăng trưởng đáng kể trên hình ảnh theo dõi, tương đương với các nốt ác tính.
Đây không phải là dấu hiệu của ác tính, mà đơn thuần là kết quả từ nguồn gốc bạch huyết của chúng.
Đây là hai ví dụ về PFN điển hình.
Không cần theo dõi thêm.
Các hình ảnh cho thấy những tổn thương không đáp ứng tiêu chí của PFN.
Các tổn thương không phải PFN này được xác định là di căn ung thư biểu mô tế bào gan (HCC) (bên trái) và ung thư biểu mô tuyến (bên phải).
Từ thiện
Toàn bộ lợi nhuận từ Radiology Assistant được dành cho tổ chức Medical Action Myanmar, do Bác sĩ Nini Tun và Bác sĩ Frank Smithuis (cha) điều hành – ông là giáo sư tại Đại học Oxford và là anh trai của Robin Smithuis.
Nhấn vào đây để xem video về Medical Action Myanmar và nếu bạn thấy Radiology Assistant hữu ích, xin hãy ủng hộ Medical Action Myanmar bằng một món quà nhỏ.










